Việt Nam

1. Tôi đến thăm chú M khi VTV đang chiếu bộ phim truyền hình “Bí thư tỉnh ủy” về cuộc đời bí thư Kim Ngọc. Ngồi xem một đoạn phim cùng chú và được chú kể lại một giai đoạn cuộc đời mình, không kém phần ly kỳ và tủi nhục. Đó là khoảng năm 1982-1983, chú M là cán bộ công đoàn của một viên nghiên cứu nông nghiệp tại Hà nội. Nhìn cảnh từ viện trưởng đến các nhân viên phòng thí nghiệm đói rét, chú đã thực hiện một kế hoạch “xé rào” táo bạo chẳng kém gì bí thư Kim Ngọc trước đó vài năm. Kết cục chú M cũng bị “đấu tố” không thương tiếc và đã chịu rất nhiều mất mát cho đến ngày hôm nay.

Ngày đó khi tham gia “chạy” vật tư cho các phòng thí nghiệm của viện, chú M nhận thấy sự bất hợp lý của chỉ tiêu sản xuất hàng năm và quá trình cung cấp vật tư giữa các hợp tác xã nông nghiệp. Hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung những năm 70-80 dẫn đến tình trạng corruption trong mọi nấc thang của hệ thống kinh tế mà thuật ngữ thời đó gọi là “thói cửa quyền”. Hầu như ai cũng “cửa quyền” nếu họ nắm giữ một loại hàng hóa/dịch vụ được phân phối ra xã hội hay cung cấp cho một mắt xích sản xuất tiếp theo. Khác với corruption trong xã hội VN hiện tại, “thói cửa quyền” thời bao cấp không có tính chất “bôi trơn” cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, ngược lại nó cản trở và kìm hãm hiệu quả toàn bộ nền kinh tế.

Chưa từng biết Friedrich Hayek và Janos Kornai là ai, chú M nhận ra rằng gốc rễ của vấn đề là nền kinh tế không có một hệ thống giá cả phản ánh đúng cung cầu trong xã hội. Một kế hoạch táo bạo được đề ra, chú M dùng con dấu của viện để thực hiện chức năng một công ty thương mại điều phối lại quá trình phân phối sản phẩm giữa một số hợp tác xã chăn nuôi và một vài nhà máy xay sát lúa. Những đơn vị đó thông qua viện của chú M thực hiện việc trao đổi cám và thịt heo theo một tỷ lệ hợp lý thay vì theo kế hoạch định trước của nhà nước, tương tự như những gì bà Ba Thi làm ở miền Nam vài năm sau. Cả hai phía đều có lợi còn quĩ công đoàn của viện được một phần thịt và gạo thặng dư trong quá trình trao đổi đó.

Tuy nhiên sau một thời gian “kinh doanh” rất thành công giúp cải thiện đời sống nhân viên của viện, chú M bị công an bắt vì tội tổ chức buôn lậu và lập quĩ đen (tội lập quĩ đen công đoàn vẫn còn đến tận ngày nay mà điển hình là vụ bà Ba Sương nông trường Sông Hậu). Sau một thời gian bị giam giữ điều tra khá lâu, mặc dù kết luận của công an là chú M không hề tham ô một đồng nào cho bản thân, chú vẫn bị kỷ luật và mất tất cả. Cuộc sống của chú rất khó khăn trong những năm tháng sau đó, nhưng giờ này chú đã rất thanh thản và chỉ tiếc một điều là công cuộc “Đổi mới” của VN không diễn ra sớm hơn vài năm. Có lẽ trong những năm 70-80 VN đã có không ít những người như chú M hay bí thư Kim Ngọc.

2. Vào những ngày cuối năm 2010, cũng là những ngày cuối trước Đại hội Đảng lần thứ 11 - một sự kiện quan trọng bậc nhất trong đời sống chính trị VN, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống Kê Đỗ Thức tuyên bố yếu tố tiền tệ góp 4.6% vào tỷ lệ lạm phát 11.75% của cả năm 2010. Tuy không nói thẳng ra nhưng rõ ràng người chịu trách nhiệm về “yếu tố tiền tệ” đó không là ai khác ngoài đương kim thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu. Có vài điểm đáng quan tâm liên quan đến sự kiện này.

Thứ nhất, so với thời của bí thư Kim Ngọc hay chú M, VN đã có một bước … lùi vượt bực: từ một nước trên tuyến đầu của khối xã hội chủ nghĩa, ngày nay VN đã biết thế nào là lạm phát, thất nghiệp, thâm hụt, tiền tệ, tài khóa…, những thứ mà trước đây CNXH đã muốn xóa bỏ hoàn toàn. Trong giai đoạn “đỉnh cao trí tuệ” 30-40 năm trước vấn đề công hữu không có gì phải bàn cãi, vậy mà ngày nay những đại biểu ưu tú nhất của Đảng lại quay lại tranh luận về vấn đề này. Tuy nhiên đánh đổi sự tụt lùi về mặt tư tưởng như vậy lấy sự tiến bộ về mặt kinh tế và cải thiện mức sống người dân là một bước đi sáng suốt của Đảng. Liệu Đảng còn những đánh đổi nào trong tương lai?

Thứ hai, cho dù VN chưa có và không cần đa nguyên như lời ông Đinh Thế Huynh tuyên bố, các chính trị gia của VN đang trên con đường “chuyên nghiệp hóa” như các đồng nghiệp ở những nước mà các đảng phái chính trị phải đấu tranh quyết liệt. Thời của bí thư Kim Ngọc và chú M mấy chục năm trước, các hoạt động chính trị chủ yếu xoay quanh các nghị quyết của đảng bộ, trung ương đến địa phương. Ngày nay, bên cạnh nghị quyết và đại hội, các chính trị gia đã biết vận dụng media và dư luận xã hội như những công cụ quan trọng cho hoạt động chính trị của mình. Có nhiều dấu hiệu cho thấy các hoạt động lobby cũng như các interest groups đã và đang xuất hiện trong hậu trường chính trị VN, cùng lúc là sự nổi lên của tầng lớp middle class với những quan tâm vượt ra ngoài vấn đề cơm áo gạo tiền hàng ngày. Đấy là dấu hiệu của một môi trường chính trị đang dần trưởng thành, dù chưa rõ theo chiều hướng tốt hay xấu.

Thứ ba, tuyên bố của ông Đỗ Thức bóc tách lạm phát thành 2 phần như vậy quả thực rất “không giống ai”. Về mặt nguyên tắc Tổng cục thống kê chỉ nên là nơi thu thập và công bố số liệu một cách chính xác và khách quan nhất, không nên và không cần đưa ra những phát biểu có tính chất phán xét như vậy. Việc bóc tách lạm phát theo yếu tố tiền tệ và phi tiền tệ còn là một sai lầm trên quan điểm kinh tế học. Lạm phát theo định nghĩa là một hiện tượng tiền tệ, một ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được con số này (nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới theo đuổi inflation targeting là một minh chứng). Chính sách tiền tệ của một ngân hàng trung ương thường được đưa ra để đối phó/trợ giúp một real shock nào đó (vd kinh tế suy thoái, thâm hụt ngân sách, giá dầu thô và các nguyên liệu thô tăng…). Bởi vậy nguyên nhân sâu xa của con số 11.75% phải là thâm hụt ngân sách lớn, đầu tư dàn trải không hiệu quả để chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng, inflexibility của nền kinh tế khi phải đối mặt với giá dầu và nguyên liệu thô gia tăng. Lạm phát của VN sẽ vẫn tiếp tục cao chừng nào những yếu tố này chưa được khắc phục, cho dù VN có mời được Ben Bernanke hay Jean-Claude Trichet ngồi vào ghế thống đốc NHNN.

3. Anh T chạy xe ôm cạnh cổng trường Hùng Vương Q.5 từ 9AM đến 4PM, sau đó làm bảo vệ khu chế xuất Tân thuận từ 6PM đến 6AM hôm sau. Mỗi ngày anh chỉ ngủ khoảng 3-4 tiếng và ở nhà với vợ con không quá 2 tiếng. Anh nói làm việc như vậy đã quen rồi và anh cảm thấy rất hạnh phúc và tự hào vì có ba người con đang học đại học và cao đẳng ở SG. Năm 2000, khi đang là cán bộ vật tư một huyện ở Thanh hóa, anh đã quyết định bán hết nhà cửa và đưa cả gia đình vào SG, một quyết định “xé rào” so với truyền thống gia đình lúc đó (bố anh cũng là cán bộ huyện). Có năm chiều 30 tết anh vẫn phải chạy vạy kiếm tiền trả nợ nóng, nhưng nay anh đã có một ngôi nhà nhỏ ở quận Tân phú và đã sắm cho mỗi đứa con một chiếc xe máy để tụi nó đi học. Với anh cuộc sống còn rất khó khăn nhưng anh tin con cái anh sẽ có tương lai tốt đẹp hơn.

Một buổi tối cuối năm 2010, Bruce Krasting dự một bữa tiệc tất niên ở NYC và tường thuật câu chuyện sau:

“One fellow … [says] “If you don’t have some non US exposure you’re not wisely invested.” Another who was looking for some free advice asks the follow on, “Yes, but which country?” He answers, “I focus on the countries that have the highest work ethic. … The talk was about which countries ranked high on that list. This was not about which worker produced more. The answer to that is easy. A worker for VW in Germany produces much more than does a worker in Viet Nam. However, the conclusion at the table was that on the narrow issue of work ethic, Vietnamese workers had a better attitude than German workers.”

Tôi tin người đàn ông trong bữa tiệc ở NYC nói đúng, VN có rất nhiều người như anh T, chú M, bí thư Kim Ngọc. Những người con của chú M đã trưởng thành và thành đạt không cần bất cứ thứ ô dù nào cả, tôi tin những đứa con của anh T cũng vậy. Và tôi cũng lạc quan về tương lai của VN, một dân tộc không may mắn trong suốt thế kỷ qua, nhưng có sức chịu đựng phi thường như đã được minh chứng trong hàng nghìn năm lịch sử.

Source: giangle: Vietnam

Về những bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923

Mấy bài báo ở thời kỳ đầu khi Nguyễn Ái Quốc mới bước lên vũ đài chính trị chỉ là số rất nhỏ trong hàng vạn bài báo và tác phẩm Hồ Chí Minh viết sau này, nó chẳng có vai trò như Thụy Khuê suy diễn, nếu như có sự lầm lẫn một đôi bài nào đó thì chính là lỗi ở các sử gia, các nhà sưu tầm, cả Pháp lẫn Việt, chứ không liên quan gì đến Hồ Chí Minh. Huyền thoại Hồ Chí Minh đâu có thể hình thành từ vài bài báo? Đó là sản phẩm của một đời đấu tranh vào sinh ra tử, phải vượt qua bao thử thách hiểm nguy, phải đối phó với bao kẻ thù hung bạo, trong một bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp, để lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ độc lập, tự do; đó cũng là sản phẩm của cuộc đời một chính khách trong sạch và liêm khiết có một không hai như Hồ Chí Minh. Đóng góp vào sự hình thành huyền thoại đó còn phải nói đến vai trò của các bạn bè Pháp, kể cả mật thám Pháp, như P. Arnoux,…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một hệ thống quan điểm về con đường cách mạng Việt Nam từ độc lập dân tộc đi tới xây dựng thành công một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Tư tưởng đó là kết quả của quá trình học tập, thâu hóa tinh hoa tư tưởng nhân loại, của các vĩ nhân như Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,…để từ đó thăng hoa lên thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trả lời câu hỏi của một phóng viên: ông là ai, theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Hồ Chí Minh từng trả lời: “Tôi vẫn là tôi ngày trước - một người yêu nước”. “Tôi hiến dâng cả đời tôi cho Tổ quốc tôi”. Tên gọi Nguyễn Ái Quốc đã kết tụ đầy đủ lý tưởng, bản chất, mục tiêu chiến đấu, phẩm chất đạo đức của cuộc đời Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không “vơ vào” cho mình một chút gì cả! Sinh thời, Người thẳng thắn từ chối mọi danh hiệu mà người đời khen tặng. Có một nhà văn nước ngoài gọi Người là nhà thơ, Người khoát tay: nhà thơ gì tôi, chẳng qua là trong tù, đi ngang được ba bước, đi dọc được sáu bước, không biết làm gì thì làm thơ, thế thôi. Tôi chỉ là người có chút duyên nợ với báo chí, gọi tôi là nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất. Cũng cần nhắc lại: Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo Việt Nam duy nhất không có huân chương, người không tán thành dựng tượng đồng, bia đá, bảo tàng,… cho mình khi nhân dân còn thiếu bệnh viện, trường học.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức chân chính, vì chính kiến riêng mà phải chịu một cuộc sống đau khổ hơn ba mươi năm, như một kẻ bị trục xuất ra khỏi cộng đồng (Un excommunié). Cuối đời, năm 1989, ông được học trò và người thân mời trở lại thăm nước Pháp, vào đúng lúc sự biến Đông Âu đang xảy ra. Phóng viên báo Le Monde đã phỏng vấn ông. Theo tâm lý thường tình, người ta nghĩ ông sẽ thực hiện “un coup pied de l’âne” (cú đá của con lừa thừa cơ người khác đang gặp khó khăn). Nhưng nhân cách của một trí thức chân chính không cho phép ông hành xử như vậy.

  • PV: Ngài thấy chủ nghĩa cộng sản bây giờ thế nào?
  • GS NMT: Trước hết các ông đừng lẫn lộn chủ nghĩa cộng sản, mà nhiều trí thức Pháp đã coi là hy vọng cuối cùng của loài người, với những người đã thực hiện nó.
  • PV: Vậy ngài thấy các lãnh tụ cộng sản thế nào?
  • GS NMT: Cũng như vậy, các ông chớ xếp chung các lãnh tụ cộng sản vào một gói. Làm sao có thể đặt ngang hàng Ceaucescu với Hồ Chí Minh? Các ông đều biết Cụ Hồ đến khi chết vẫn chỉ có hai bộ quần áo kaki đã sờn và một đôi dép lốp cao su đã vẹt gót.
  • PV: Liệu Việt Nam có như Đông Âu không?
  • GS NMT: Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những sai lầm, nhưng không ai quên công lớn của Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập, thống nhất, giải phóng dân tộc[15].

Tôi muốn dẫn một người nữa, GS Hoàng Xuân Hãn, một học giả đáng kính, được coi như là lương tâm của trí thức Việt kiều ở hải ngoại. Một phóng viên của Diễn đàn (Paris), trong một lần trao đổi với GS về sự đánh giá của ông đối với công lao của Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được nghe ông tâm sự: “Bây giờ lòng người còn phân tán, hận thù còn quá nhiều, nên sự đánh giá còn lệch lạc. Nhưng với con mắt của người nghiên cứu lịch sử dân tộc, bác tin rằng vài chục năm nữa, có lẽ sớm hơn, người ta sẽ nhìn nhận công lao của cụ Hồ”. Rồi ông nói cụ thể hơn: “Cũng những anh thanh niên ấy mà bác đã quan sát, vì đã dạy học họ trong mấy năm, nhưng không tập hợp nhau được, hay tập hợp được cũng chẳng làm nên việc gì, thế mà hôm trước hôm sau, họ thay đổi hẳn”. Theo lời phóng viên được đối thoại thì ý này của GS Hoàng Xuân Hãn trùng hợp với nhận xét của viên tướng chỉ huy quân đội Nhật ở Đông Dương thời đó, trên đường từ Hà Nội vào Sài Gòn ngay sau ngày 19-8-1945, ông ta cũng nhận thấy “những đôi mắt, những ánh mắt” trên khuôn mặt người Việt Nam chỉ “hôm trước, hôm sau” đã “hoàn toàn khác hẳn” (do GS Vĩnh Sính thuật lại). Sau khi ôn lại những cố gắng liên tiếp của các thế hệ cha ông từ cuối thế kỷ XIX, tìm đường giải phóng đất nước mà không thành, GS Hãn kết luận: “Vì chưa bao giờ trong lịch sử của mình, dân ta phải đương đầu với một quốc gia xâm lược mà thế lực, trình độ phát triển, hơn hẳn ta đến như vậy”[16]. Vậy mà cụ Hồ đã thành công. Có lẽ, đó cũng là nhận thức chung của những trí thức Việt kiều có lương tri ở hải ngoại hiện nay.

Hàng chục năm nay, đã có không ít kẻ xấu xa bị thất bại ê chề trong âm mưu “lật đổ thần tượng”. Họ phải biết rằng Hồ Chí Minh, cũng như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,…là những thần tượng muôn đời của dân tộc, một vài đứa con lạc bầy, dù có hò hét điên cuồng đến đâu, cũng không thể nào đánh đổ được. Mong rằng Thụy Khuê sẽ không ăn phải đũa của những kẻ “bội tín”, sẽ tiếp bước lớp trí thức tinh hoa ở hải ngoại, có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp đoàn kết, hòa hợp dân tộc và phát triển đất nước./.

Nguồn: Thay lời kết luận - Về những bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp  từ 1919 đến 1923 (Trao đổi lại với Thụy Khuê) của Ngô Trần Đức

Khúc bi tráng Phú Quốc

VTC vừa đăng một bài viết về Bảy Nhu, viên cai ngục khét tiếng tại nhà tù Phú Quốc một thời mà theo lời tác giả thì:

“Đào bới” suốt sử sách - tư liệu của ngàn năm lịch sử, từ thời nguyên thủy, thời phong kiến, thời bị ách xâm lược của thực dân, đế quốc, tôi chưa bao giờ nghe, đọc, xem có một tù ngục nào dã man với viên cai ngục bằng xương bằng thịt mà lại kinh thiên động địa như cặp bài trùng khét tiếng: Thượng sĩ Bảy Nhu - nhà tù Phú Quốc.

Lục lại, cách đây 4 năm, nhân dịp kỷ niệm 61 năm Cách Mạng Tháng 8 và Quốc khánh mùng 2 tháng 9, Tuổi Trẻ có đăng loạt bài “Khúc bi tráng Phú Quốc” kéo dài 4 kỳ. Đọc serie này có thể hiểu thêm một chút về “địa ngục trần gian” mà những chiến sỹ cách mạng một thời từng trải qua:

Một tác phẩm đáng giá khác dành cho ai muốn tìm hiểu thêm về nhà tù Phú Quốc là cuốn ký sự lịch sử “Nhà lao Cây Dừa” của Chu Lai.

Xét trên phương diện nào đó, nơi đây cũng tồn tại những hình thức tra tấn khủng khiếp không kém gì nhà tù S-21 nổi tiếng dưới chế độ Polpot.

Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

Nhìn lại bản thân và nhìn lại xung quanh. Chúng ta cần thay đổi ngay từ cách nhìn.

“Thánh Gióng” hay “Thánh Dóng”?

Trước đến giờ mình vẫn dùng “Thánh Gióng”. Từ này ăn sâu vào trí nhớ của mình ngay từ khi mới biết đọc, cầm quyển truyện đọc lớp 1. Thế mà mới đây vừa đọc một bài viết trên báo Gia đình và Xã hội của 2 nhà nghiên cứu nổi tiếng, Cung Khắc Lược và Lương Văn Kế, có tiêu đề: Tư liệu đặc biệt về hậu duệ Thánh Dóng: Giúp vua Hùng giữ ngôi báu.

Không khỏi băn khoăn, lần mò Google thử thì số kết quả trả về với từ “Thánh Gióng” cao hơn hẳn “Thánh Dóng”, 137000 so với 11500. Ít nhất điều này cũng chứng tỏ từ “Thánh Gióng” đang được dùng phổ biến hơn.

Sau đó mình lại bắt gặp bài viết này trên báo Tiền Phong: “Thánh Gióng” hay “Thánh Dóng”?. Trong bài viết có nói các nhà nghiên cứu và khoa học chưa thống nhất được dùng từ nào là chuẩn xác. Thậm chí trong công văn trao đổi giữa văn phòng Chính phủ và Bộ VH,TT&DL cũng không thống nhất 2 từ.

Tra thử từ điển tiếng Việt thì chữ “Dóng”“Gióng” đều có nghĩa theo 2 từ loại là danh từ và động từ. Tuy nhiên:

  • “Dóng” dùng theo nghĩa Danh từ “đoạn giữa hai mắt của một số cây có thân thẳng” (gióng tre) được ghi chú là ít dùng.
  • Động từ “Gióng” còn có 1 nghĩa đáng chú ý là “nói như để báo trước điều sẽ làm” trong khi động từ “Dóng” chỉ có nghĩa là “sắp cho thẳng hàng”.

Nếu đối chiếu theo từ điển phổ thông và cách dùng phổ biến thì “Gióng” vẫn chính xác hơn. Tuy nhiên do không có điều kiện tìm hiểu kỹ, có thể từ “Dóng” là một từ cổ, qua thời gian đã không được sử dụng phổ biến nữa. Nếu các nhà nghiên cứu thấy việc sử dụng từ cổ có ý nghĩa hơn và cần thiết phải thay đổi thì những người làm công tác quản lý, tuyên truyền cũng nên có một thông báo rộng rãi. Điều này giúp tránh được việc hiểu nhầm, gây bối rối do cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nhận thức, tư duy vốn có của người dân. Việc này cũng giúp tránh được sự không thống nhất trong các văn bản sau này.

Bản địa và Ngoại lai

Thục Phán - An Dương Vương

Báo Khoa học & Đời sống Online có đăng một bài viết tiêu đề: “Quê hương của An Dương Vương ở đâu?” với lời dẫn:

Sự tồn tại, cũng như nguồn gốc hay quê hương của Thục Phán An Dương Vương là vấn đề được quan tâm từ xưa đến nay, có ý nghĩa để đánh giá và khẳng định tính bản địa hay tính ngoại lai của Nhà nước Âu Lạc.

Mình không rõ ở các nước khác, các nghiên cứu kiểu này có phổ biến và được đánh giá cao không nhưng mình băn khoăn: các nhà nghiên cứu căn cứu vào những tiêu chuẩn nào để đánh giá tính bản địa và ngoại lai?

  • Nếu xét về mặt địa giớitổ chức nhà nước thì lãnh thổ và nhà nước Việt Nam cách đây hàng nghìn năm không như Việt Nam bây giờ và Trung Quốc cũng tương tự. Vậy thì với 2 phương diện luôn có sự thay đổi này các nhà nghiên cứu lấy tiêu chuẩn nào, vào thời điểm nào để đánh giá một con người (hay một nhóm người) là ngoại lai?
  • Nếu xét về tộc người ( dân tộc ) thì bản thân Việt Nam (xưa đến nay) hay nhiều quốc gia khác đều là các quốc gia đa dân tộc. Ngay trong một vùng đất nhỏ (xưa đến nay) cùng tồn tại nhiều tộc người sinh sống, sự phân bổ dân cư cách đây hàng ngàn năm cũng khác xa bây giờ. Vậy tiêu chuẩn nào để đánh giá một tộc người là ngoại lai khi mà về mặt địa giới đã có sự khác biệt trong suốt chiều dài lịch sử? Liệu các dân tộc miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ có nhìn nhận dân tộc Kinh như là một dân tộc ngoại lai nếu nhìn một cách thiếu khách quan?

Tóm lại, việc đánh giá yếu tố ngoại lai, theo mình, nếu chọn theo một tiêu chuẩn không khách quan, không thống nhất suốt chiều dài lịch sử (là cái khó mà đạt được) hoặc giả như tiêu chuẩn quá đơn giản, hời hợt dễ dẫn đến cảm giác dường như có một sự khiên cưỡng. Và tệ hơn là nó có thể ảnh hưởng không tốt đến sự thống nhất và hòa hợp trong hiện tại.

Hay có nên chăng chúng ta cần có một cái nhìn toàn diện, khách quan hơn và không có sự phân biệt thái quá?

Chính sách của Trung Quốc lúc đó rất cứng rắn. Họ lấy lí do là qua nghiên cứu khảo cổ, họ đã phát hiện xương người Trung Quốc ở các đảo thuộc quần đảo này, và do đó, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với quần đảo. Lãnh đạo Việt Nam khi đó đã đáp lời Trung Quốc, hãy tới khảo cổ ở gò Đống Đa và các khu vực xung quanh Hà Nội, họ sẽ tìm thấy nhiều xương của người Trung Quốc hơn nữa.

Học giả quốc tế phê phán đường lưỡi bò của TQ

Câu trả lời của lãnh đạo Việt Nam (không rõ là ai) trước tuyên bố của Trung Quốc về việc khảo cổ và tìm thấy xương người Trung Quốc trên các đảo tại Hoàng Sa theo lời một giáo sư người Nga - GS Lokshin G. Mikhailovich.

Từ câu nói này có khá nhiều điều thú vị để chiêm nghiệm.